Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammasambuddhassa
Con xin thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn - Ngài là bậc Ứng Cúng, Đấng Chánh Biến Tri

Trang Chủ   Tin Tức   Thượng Tọa Bửu Chánh   Sư Cô Tâm Tâm   Thực Hành   Vấn Đáp   Thư Viện   Liên Hệ   Liên Kết

     
   

 

GIỚI THIỆU VI DIỆU PHÁP

Đức Phật đă nhập diệt, nhưng Giáo Lư cao siêu mà Ngài đă dày công hoằng dương trong bốn mươi lăm năm trường vẫn c̣n lưu lại đến ngày nay cho nhân loại, trọn vẹn, đầy đủ, và hoàn toàn tinh túy.

Mặc dầu giáo huấn của Đức Thế Tôn không được ghi chép ngay lúc bấy giờ trên giấy trắng mực đen, các vị đệ tử của Ngài luôn luôn nhuần nhă nằm ḷng và truyền khẩu từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Ba tháng sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, vào năm thứ tám triều đại Ajatasattu (A Xà Thế), năm trăm vị đại đệ tử A La Hán của Ngài kết hợp lần đầu tiên tại Rajagaha (Vương Xá) để nhắc lại những Phật ngôn quư báu. Đức Ananda - vị đệ tử trung thành đă được diễm phúc luôn luôn ở bên cạnh Đức Thế Tôn và hân hạnh được nghe tất cả giáo huấn của Ngài - và Đức Upali, được chọn đứng lên trả lời những câu hỏi. Đức Ananda, được đề cử tŕnh bầy những lời khuyên dạy (Sutta, kinh), Đức Upali về những vấn đề có liên quan đến giới luật (Vinaya), và cả hai vị luân phiên trả lời các câu hỏi về phần Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), giáo lư cao siêu. Đó là lần kết tập đầu tiên, tập trung toàn thể giáo lư của Đức Phật và sắp xếp rành mạch thành ba tạng (Tam Tạng Kinh: Tạng Luật, Tạng Kinh và Tạng Luận).

V́ có những khuynh hướng làm sai lạc Giáo Pháp nên sau đó hai lần [1] , một trăm năm và hai trăm ba mươi sáu năm, các vị A La Hán lại kết tập lần thứ nh́ và thứ ba để đọc lại Phật ngôn.

Vào khoảng năm 83 trước D.L, dưới triều vua Vatta Gamani Abhaya [2] xứ Sri Lanka (Tích Lan), các vị A La Hán lại kết tập một lần nữa tại Aluvihara [3], một ấp nhỏ của đảo Sri Lanka (Tích Lan), lối 30 cây số cách Kandy. Tại đây, lần đầu tiên trong lịch sử Phật Giáo, Tam Tạng Pali (Nam Phạn) được ghi chép trên lá buôn [4] nhờ sự cố gắng liên tục và tầm mắt thấy xa của chư vị Đại Đức A La Hán. Đến ngày nay, và trong tương lai, không có lư do nào để chỉ trích, và cũng không thể nào các học giả tân tiến làm sai lạc tách cách trong trắng của giáo lư thuần túy.

Kể về lượng, ba Tạng kinh (Tipitaka), gồm trọn vẹn Giáo Lư của đức Phật, bằng mười một lần quyển thánh kinh của Ki-tô Giáo.

Phạn ngữ Tipitaka (Bắc Phạn: Tripitaka) có nghĩa là ba cái giỏ. Ba cái giỏ ấy là: giỏ đựng Luật (Vinaya Pitaka), giỏ đựng Kinh (Sutta Pitaka) và giỏ đựng Luận (Abhidhamma Pitaka, Vi Diệu Pháp), tức ba Tạng: Luật, Kinh và Luật

Tạng Luật (Vinaya Pitaka)

Tạng Luật được xem là cái neo vững chắc để bảo tồn con thuyền giáo hội trong những cơn phong ba băo táp của lịch sử. Phần lớn tạng Luật đề cập đến giới Luật và nghi lễ trong đời sống xuất gia của các vị tỳ khưu và tỳ khưu ni. Ngót hai mươi năm sau khi Thành Đạo, Đức Phật không có ban hành giới luật nhất định để kiểm soát và khép chư tăng vào kỹ cương. Về sau, mỗi khi có trường hợp xảy diễn, Đức Phật đặt ra những điều răn thích hợp. Tạng Luật nêu rỏ đầy đủ lư do tại sao và trường hợp nào Đức Phật ban hành một giới, và mô tả rành mạch các nghi thức hành lễ sám hối (Vinaya) của chư tăng. Lịch tŕnh phát triển đạo giáo từ thuở ban khai, sơ lược đời sống và chức nhiệm của Đức Phật, và các chi tiết về ba lần kết tập Tam Tạng là những điểm khác được đề cập đến trong Tạng Luật. Một cách gián tiếp, đây là những tài liệu hữu ích về lịch sử thời thượng cổ, về các cổ tục ở Ấn, về kiến thức và tŕnh độ thẩm mỹ thời bấy giờ. Người đọc Tạng Luật không khỏi ngạc nhiên và thán phục tánh cách dân chủ trong phương pháp thành lập và tổ chức Giáo Hội Tăng Già, việc sử dụng tài sản, mức độ luân lư cao thượng của chư Tăng và khả năng xuất chúng của Đức Phật trong việc điều hành Giáo Hội.

Ngài Zetland viết:

"Và rất nhiều người lấy làm ngạc nhiên được biết rằng những nguyên tắc sơ đẳng trong quốc hội của chúng ta ngày nay (Anh Quốc) đă có sẵn trong Giáo Hội Phật Giáo Ấn Độ, từ hơn hai ngàn năm về trước. [5] "

Tạng Luật gồm năm quyển:

Vibhanga:

1. Parajika Pali (Tội nặng)
2. Pacittiya Pali (Tội nhẹ)

Khandaka:

3. Mahavagga Pali (Phần lớn)
4. Cullavagga Pali (Phần nhỏ)

5. Parivara Pali (Giới toát yếu)

Tạng Kinh (Sutta Pitaka)

Tạng Kinh đại để gồm những bài Pháp có tánh cách khuyên dạy mà trong nhiều cơ hội khác nhau, Đức Phật giảng cho các bậc xuất gia và hàng cư sĩ. Một vài bài giảng của các vị đại đệ tử như các ngài Sariputta (Xá Lợi Phất), Moggallana (Mục Kiền Liên) và Ananda (A Nan Đà) cũng được ghép vào Tạng Kinh và cũng được tôn trọng như chính lời Đức Phật v́ đă được Đức Phật chấp nhận. Phần lớn các bài Pháp này nhằm vào lợi ích của chư Tỳ Khưu và đề cập đến đời sống thánh thiện của các bậc xuất gia. Nhiều bài khác liên quan đến tiến bộ vật chất và tinh thần, đạo đức của người cư sĩ. Kinh Sigalovada [6] chẳng hạn, dạy về bổn phận của người tại gia. Ngoài ra c̣n có những bài giảng lư thú dành cho trẻ em.

Tang Kinh giống như một quyển sách ghi lại nhiều quy tắc để coi theo mà thực hành, v́ đó là các bài Pháp do Đức Phật thuyết giảng ở nhiều trường hợp khác nhau cho nhiều người có căn cơ, tŕnh độ, và hoàn cảnh khác nhau. Ở mỗi trường hợp, Đức Phật có một lối giảng để người thính Pháp có thể lănh hội dễ dàng. Thoáng nghe qua h́nh như mâu thuẫn, nhưng phải nhận định đúng Phật ngôn theo mỗi trường hợp riêng biệt mà Đức Phật dạy điều ấy. Tỷ như để trả lời môt câu hỏi về cài "Ta", có khi Đức Phật giữ im lặng, có khi ngài giải thích dong dài. Nếu người vấn đạo chỉ v́ tánh ṭ ṃ muốn biết th́ Ngài làm thinh, không trả lời. Nhưng với người cố tâm t́m hiểu chân lư th́ Ngài giảng dạy rành mạch và đầy đủ.

Tạng kinh gồm năm bộ:

1. Digha Nikaya, Trường A Hàm, chép lại những bài Pháp dài.
2. Majjhima Nikaya, Trung A Hàm, những bài Pháp dài bậc trung.
3. Samyutta Nikaya , Tạp A Hàm, những câu kinh tương tợ nhau.
4. Anguttara Nikaya, Tăng nhứt A Hàm, những bài Pháp sắp xếp theo con số.
5. Khuddaka Nikaya, Tiểu A Hàm, những câu kệ vắn tắt.

Riêng bộ Khuddaka Nikaya (Tiểu A Hàm) chia làm 15 tập:

1. Khuddaka Patha, những bài ngắn.
2. Dhammapada, Kinh Pháp cú, con Đường chân lư.
3. Udana, Khúc ca hoan hỷ.
4. Itivuttaka, những bài kinh bắt đầu bằng cụm từ "Phật dạy như thế này".
5. Sutta Nipata, những bài kinh sưu tập.
6. Vinama Vatthu, câu chuyện những cảnh trời.
7. Peta Vattthu, câu chuyện cảnh giới ngạ quỷ.
8. Theragatha, Trưởng Lăo Tăng Kệ.
9. Therigatha, Trưởng Lăo Ni Kệ.
10. Jataka, những câu chuyện tái sinh của Bồ Tát: Túc Sanh Truyện, hay Kinh Bổn Sanh.
11. Niddesa, những bài trần thuật, Nghĩa thích.
12. Patisambhida, quyển sách đề cập đến kiến thức Phân Giải.
13. Apadana, đời sống của chư vị A La Hán.
14. Buddhavamsa, tiểu sử của Đức Phật.
15. Cariya Pitaka, những phẩm hạnh.

Tạng Luận (Abhidhamma Pitaka - Vi Diệu Pháp Tạng)

Tạng Luận thâm diệu và quan trọng nhất trong toàn thể Giáo Pháp v́ đây là phần triết lư cao siêu, so với Tạng Kinh vốn giản dị hơn. Abhidhamma, Tạng Luận hay Vi Diệu Pháp, là tinh hoa của Phật Giáo.

Đối với một vài học giả, Vi Diệu Pháp không phải là Đức Phật giảng mà do các nhà sư uyên bác khởi thảo về sau. Tuy nhiên, đúng theo truyền thống th́ chính Đức Phật đă dạy phần chánh yếu của Tạng này. Những đoạn gọi là Matika hay Ṇng Cốt Nguyên Thủy của Giáo Lư cao siêu này, như thiện pháp (kusala dhamma), bất thiện pháp (akusala dhamma), và bất định pháp (abyakata dhamma), trong sáu tập của Tạng Luận (trừ tập Kathavatthu, những điểm tranh luận) [7] đều do chính Đức Phật dạy. Ngài Sariputta (Xá Lợi Phật) được danh dự lănh trọng trách giảng rộng và giải thích sâu vào chi tiết. Dầu tác giả, hay các vị tác giả là ai, chắc chắn Tạng Luận là công tŕnh sáng tác của một bộ óc kỹ xảo kỳ tài chỉ có thể so sánh với một vị Phật. Và điểm này càng nổi bật một cách hiển nhiên trong tập Patthana Pakarana, vừa phức tạp vừa tế nhị, diễn tả mối tương quan của luật nhân qủa với đầy đủ chi tiết.

Đối với bậc thiện trí thức muốn t́m chân lư, Tạng Luận là quyển kinh chỉ đạo khẩn yếu, vừa là một tập khải luận vô giá. Ở đây có đủ thức ăn tinh thần cho các học giả muốn mở mang trí tuệ và đời sống lư tưởng của người Phật tử. Vi Diệu Pháp không phải loại sách để đọc thoáng qua cầu vui hay giải trí.

Khoa tâm lư học hiện đại, c̣n hạn định, vẫn nằm trong phạm vi của Vi Diệu Pháp khi đề cập đến tâm, tư tưởng, tiến tŕnh tư tưởng, các trạng thái tâm. Nhưng Tạng Luận không chấp nhận có một linh hồn, hiểu như một thực thể trường tồn bất biến. Như vậy, Vi Diệu Pháp dạy một thứ tâm lư học trong đó không có linh hồn.

Nếu đọc Vi Diệu Pháp như một quyển sách tâm lư học hiện đại th́ ắt phải thất vọng, v́ ở đây không có ư định giải quyết tất cả những vấn đề mà tâm lư học hiện đại phải đối phó.

Tâm hay tâm vương (Citta) được định nghĩa rơ ràng. Tư tưởng được phân tách và sắp xếp đại để thành từng loại về phương diện luân lư. Tất cả những trạng thái tâm, hay tâm sở (Cetasika), đều được lược kê cẩn thận. Thành phần cấu hợp của mỗi loại tâm được kể ra từng chi tiết.Tư tưởng phát sanh thế nào cũng được mô tả tỉ mỉ. Riêng những chặp tư tưởng bhavanga và javana, chỉ được đề cập đến và giải thích trong Vi Diệu Pháp, thật là đặc biệt hữu ích cho ai muốn khảo cứu về tâm lư học. Những vấn đề không liên quan đến giải thoát đều được gác hẳn qua một bên.

Sắc, tức phần vật chất, cũng được đề cập đến, nhưng không phải như các nhà vật lư học hay các y sĩ mô tả. Đơn vị căn bản của vật chất, những đặc tánh, nguồn gốc của vật chất, tương quan giữa vật chất và tâm, sắc và danh, đều được giải thích. Vi Diệu Pháp không nhằm tạo lập một hệ thống tư tưởng về tâm và vật chất mà chỉ quan sát hai thành phần cấu tạo cái được gọi là chúng sanh để giúp hiểu biết sự vật theo đúng thực tướng. Dựa trên căn bản ấy, một triết lư đă được xây dựng và dựa trên triết lư này một hệ thống luân lư được phát triển nhằm đưa đến mục tiêu tối hậu.

Bà Rhys Davids viết:

"Vi Diệu Pháp đề cập đến: 1) cái ǵ ở bên trong ta, 2) cái ǵ ở chung quanh ta, và 3) cái ǵ ta khao khát thành đạt."

Tạng Kinh chứa đựng những lời dạy thông thường (vohara desana), c̣n Tạng Luận gồm Giáo Lư Cùng Tột (paramattha desana).

Hầu hết các học giả Phật Giáo đều xác nhận rằng muốn thông hiểu Giáo Huấn của Đức Phật, phải có kiến thức về Tạng Luận v́ đó là ch́a khoá để mở cửa vào thực tế.

Tạng Luận gồm bảy bộ:

1. Dhammasanghani, phân loại các Pháp, Pháp Tụ.

2. Vibhanga, những tiết mục, Phân Biệt.

3. Dhatukatha, luận giải về các nguyên tố hay giới, Giới Thuyết.

4. Puggala Pannatti, chỉ danh những cá tính, Nhơn Thi Thuyết.

5. Kathavathu, những điểm tranh luận, Thuyết Sự.

6. Yamaka, quyển sách về những cặp đôi, Song Đối.

7. Patthana, quyển sách đề cập đến nhân quả tương quan, Phát Thú.

-oOo-

 

THERAVĀDA
ABHIDHAMMAPIṬAKA - TẠNG DIỆU PHÁP

  • Bộ Pháp Tụ
    - Dhammasangani (Classification of Dhamma). Ḥa thượng Tịnh Sự dịch.
  • Bộ Phân Tích (Phân Biệt)
    - Vibhanga (Divisions). Ḥa thượng Tịnh Sự dịch. 
  • Bộ Chất Ngữ (Giới Thuyết)
    - Dhatukatha (Discourse on Elements).  Ḥa thượng Tịnh Sự dịch. 
  • Bộ Nhân Chế Định (Nhân Thi Thuyết)
    - Puggala Pannatti (The Book on Individuals).  Ḥa thượng Tịnh Sự dịch. 
  • Bộ Ngữ Tông (Biện Giải)
    - Kathavatthu (Points of Controversy). Tâm An & Minh Tuệ dịch (*).  
  • Bộ Song Đối (Song Luận)
    - Yamaka (The Book of Pairs).  Ḥa thượng Tịnh Sự dịch. 
  • Bộ Vị Trí (Phát Thú)
    - Patthana (The Book of Causal Relations).  Ḥa thượng Tịnh Sự dịch. 

(*) dịch từ bản Anh ngữ "Points of Controversy" (Những Điểm Dị Biệt)

 

 

DHAMMASAṄGANI
BỘ PHÁP TỤ

Dịch giả:
Đại Trưởng Lăo TỊNH SỰ
SANTAKICCA Mahā Thera

 

Abhidhammapiṭaka (Tạng A-Tỳ-Đàm) dịch là Tạng Vô-Tỷ-Pháp, là một trong ba Tạng Giáo Lư của Phật Giáo.

Tạng Abhidhamma đặc thù hơn tạng Suttanta (kinh) và Tạng Vinaya (Luật) trên phương diện nghiơa lư, tŕnh bày pháp chơn tướng bản thể (Sabhāva-dhamma), v́ ư nghĩa cao siêu nhặt nhiệm, nên có chỗ dịch là Vi Diêu Pháp.

Tạng Abhidhamma có bảy bộ:

1- Dhammasaṅgaṇi (Bộ Pháp Tụ)
2- Vibhaṅga (Bộ Phân Tích)
3- Dhātukathā (Bộ Chất Ngữ)
4- Puggalapaññatti (Bộ Nhơn Chế Định)
5- Kathāvatthu (Bộ Ngữ Tông)
6- Yamaka (Bộ Song Đối)
7- Paṭṭhāna (Bộ Vị Trí)

Như vậy bộ Dhammasaṅgaṇi (Pháp Tụ) là bộ khởi đầu; qui tụ những mẫu đề chính yếu (mātikā) của Tạng Abhid-hamma.

Bộ Dhammasaṅgaṇi được Đức Phật thuyết trọn mười hai ngày, trong thời gian ba tháng an cư tại Cung Đạo Lợi (tāvatiṃsa) gồm có 1300 pháp uẩn (Dhammakhandha), 987 đoạn (pabba), bốn chương (kaṇḍa):

a- Cittupādakaṇḍaṃ - Chương tâm sanh
b- Rūpakaṇḍaṃ - Chương sắc
c- Nikkhepakaṇḍaṃ - Chương toát yếu
d- Atthuddhārakaṇḍaṃ - Chương trích yếu

Bộ Dhammasaṅgaṇi, nội dung xoay chuyển quanh ba loại mẫu đề (mātikā) là:

- Mẫu đề tam: - Tikamātikā
- Mẫu đề nhị: - Dukamātika
- Mẫu đề kinh:
- Suttantamātikā.

Mẫu đề tam có hai mươi hai đề tài, gồm sáu mươi sáu câu, như đề thiện (kusalatika) gồm: - Các pháp thiện (kusalādhammā) - các pháp bất thiện (akusalā dhammā) - các pháp vô kư (Abyākatā dhammā)... Như vậy mỗi đề có ba câu, nên hai mươi hai đề có sáu mươi sáu câu.

Mẫu đề nhị có một trăm đại đề, gồm hai trăm tiểu đề, như đề nhân (hetuduka) gồm: - Các pháp nhân (hetū dhammā) - Các pháp phi nhân (no hetū dhammā) ... Như vạäy mỗi đại đề có hai tiểu đề, nên một trăm đại đề có hai trăm tiểu đề.

Mẫu đề kinh có bốn mươi hai đầu đề, gồm tám mươi bốn câu. Mẫu đề này, mỗi đề cũng nói lên hai khía cạnh, nhưng không cần đối nhau, chỉ nói từng đôi pháp theo ư nghĩa kinh tạng, như đề phần minh (Vijjkābhāgīduka) có hai câu là: - các pháp phần minh (Vijjkābhāgino dhammā) và - Các pháp phần vô minh (Avijjābhāgino dhammā)...

Khi nêu lên một đề pháp nào trong mỗi đại tiền đề, Bộ Dhammasaṅgaṇi đă tŕnh bày chi pháp của đề pháp đó. Điểm đặc sắc khác của Bộ Dhammasaṅgaṇi là định nghĩa làm sáng tỏ tâm, sở hữu tâm, sắc pháp. Đặc điểm này đă gây hứng thú và lợi ích cho những học giả nghiên cứu.

Về h́nh thức, Bộ Dhammasaṅgaṇi dẫn giải theo cách vấn đáp, nghĩa là có một câu hỏi đưa ra th́ có một câu giải đáp liền đó. Đặc điểm này cũng giúp nhiều lợi ích, do có sự nhấn mạnh mỗi vấn đề, nên dễ chú ư, dễ nắm lấy ư nghĩa.

Như vậy bộ Dhammasaṅgaṇi là một Bộ Luận có giá trị then chốt, là ch́a khóa để mở cửa kho tàn vô tỷ, không thể không nắm căn bản Bộ Pháp Tụ này mà nghiên cứu dễ dàng các Bộ luận khác; một cơ sở mà các học giả nghiên cứu Tạng Abhidhamma phải đứng trên đó.

Bộ Dhammasaṅgaṇicũng cũng có thể là Bộ sách làm cơ sở cho Pháp môn Thiền Quán, là một cẩm nan cho các hành giả tu tuệ, muốn thấu đáo tinh tường đề mục tu tập như: - Danh sắc, ngủ uẩn, trạng thái tâm, sở hữu tâm, sắc pháp ...

Chính Bộ Dhammasaṅgaṇi này giải rơ các vấn đề.

Chùa Siêu Lư, ngày 1-9-1975.
Ḥa Thượng TỊNH SỰ SANTAKICCO.

 

 

VIBHAṄGA
BỘ PHÂN TÍCH

TẬP MỘT

Dịch giả:
Đại Trưởng Lăo TỊNH SỰ
SANTAKICCA Mahā Thera

 LỜI TỰA

VÔ TỶ PHÁP TẠNG (Abhidhamma Piṭaka) gồm có 7 bộ. Bộ Vibhaṅga nầy là bộ thứ hai trong bảy bộ ấy; là bộ có tầm quan trọng đáng kể về hệ phân tích, là đặc điểm Hệ phái Phật Giáo Nguyên Thủy, vốn có truyền thống chi li, phân tích từng vấn đề cho được sáng tỏ, rơ ràng, cụ thể, thiết thực và có mạch lạc, để người thừa kế Đạo nghiệp không lầm lẫn Chánh pháp với tà giáo bởi những từ ngữ tối nghĩa, ẩn ngữ, mật ngôn, áo lư... nên những Pháp căn bản cho sự tu tập, nhất là thiền quán (Vipassanā) như :

- Uẩn phân tích (Khandhavibhaṅga)
- Xứ phân tích (Āyatanavibhaṅga)
- Giới phân tích (Dhātuvibhaṅga)
- Đế phân tích (Saccavibhaṅga)
- Quyền phân tích (Indriyavibhaṅga)
- Duyên phân tích (Paccayavibhaṅga)
- Niệm phân tích (Sativibhaṅga)
- Cần phân tích (Viriyavibhaṅga)
- Thần túc phân tích (Iddhipādavibhaṅga)
- Giác chi phân tích (Bodhipakkhiyavibhaṅga)
- Đạo phân tích (Maggavibhaṅga)...

Được Bộ phân tích nầy phân tích hết sức rơ rệt, rất có lợi cho người thật tâm hành đạo, và cũng hữu ích cho người thật ḷng nghiên cứu Phật học.

Theo truyền thuyết, Bộ Vibhaṅga được Đức Phật thuyết 12 ngày, trong thời gian an cư mùa mưa năm thứ 7 (kể từ lúc thành đạo) tại Tāvatimsa, gồm có 6.500 Pháp uẩn (Dhammakkhandha), 1.118 đoạn (Pabba), 18 chương (Kanda), và có 70 triệu chư Thiên chứng quả.

Bởi tập Vibhaṅga có những điểm lợi ích thiết thực như đă nói trên, nên chúng tôi cố gắng phiên dịch ra Việt ngữ, mong đóng góp vào ngôi nhà Chánh Pháp, nhứt là Đại Tạng Kinh của Phật Giáo.

Nếu có những điểm sơ thất, mong các bậc cao tăng, thức giả từ bi bổ túc cho.

Tỷ Khưu TỊNH SỰ

-ooOoo-

LỜI GIỚI THIỆU

VIBHAṄGA là bộ thứ nh́ của Tạng ABHIDHAMMA, đă được Ngài Tịnh Sự (Mahāthera Santakicco) phiên dịch từ Thái văn ra Việt văn, nay các đệ tử của Ngài tiếp nối huệ mạng của Thầy Tổ, tu chỉnh bản dịch Tạng Abhidhamma của Ngài chưa được in thành sách mà Ngài đă tịch!

Tôi vẫn lưu tâm vấn đề nầy từ lâu, nhưng chưa gặp cơ hội thuận tiện, măi đến đại hội Phật Giáo kỳ II, Nhà nước cho thành lập thêm "Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam", tôi cho mời các vị Sư đệ tử của Ngài đến chùa Nam Tông, đề nghị các Sư tu chỉnh bản dịch của Ngài thật kỹ lưỡng, tôi sẽ xin giấy phép ấn hành.

Các vị Sư của Ngài hưởng ứng lời kêu gọi của tôi, nên tích cực tu chỉnh Bộ DHAMMASAṄGANI và đă được Thành Hội Phật Giáo Thành Phố Hồ Chí Minh ấn hành.

Nay các vi Sư đệ tử của Ngài tiếp tục tu chỉnh Bộ Vibhaṅga. Chúng tôi rất hoan hỉ trước tinh thần đoàn kết và nhiệt tâm duy tŕ Phật Giáo của các vị ấy. Vậy nhân danh Tăng Trưởng Hệ Phái Phật Giáo Nam Tông (Nguyên thủy) Việt Nam, xin trân trọng giới thiệu dịch phẩm Vibhaṅga nầy đến toàn thể Chư Tăng, các Phật tử trong và ngoài nước nên nghiên cứu học, đọc... cho trí tuệ tu hành càng được tăng tiến.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kỳ Viên Tự , ngày 11-12-1990 (PL.2534)
Tăng Trưởng Hệ Phái Nam Tông Việt Nam
Hoà Thượng THÍCH SIÊU VIỆT

 

 

BỘ CHẤT NGỮ
DHĀTUKATHĀ

Dịch giả:
Đại Trưởng Lăo TỊNH SỰ
SANTAKICCA Mahā Thera

 

 

BỘ NHƠN CHẾ ĐỊNH
PUGGALAPAÑÑATTI

Dịch giả:
Đại Trưởng Lăo TỊNH SỰ
SANTAKICCA Mahā Thera

 

 

KATHĀVATTHU
BỘ NGỮ TÔNG
(NHỮNG ĐIỂM DỊ BIỆT)

TÂM AN - MINH TUỆ dịch

 Lời giới thiệu

Cô Tâm An có cho tôi xem tập "Những điểm dị biệt" dịch từ bản tiếng Anh "Points of Controversy" - dịch từ bản Pāli "Kathāvatthu".

Như vậy tập này là một trong 7 tập thuộc "Abhidhamma Piṭaka" tức là Luận tạng, có thể dịch là Thắng pháp hay Vi diệu pháp. Tập này theo truyền thống Thượng Tọa bộ (Theravāda) được h́nh thành trong kỳ kết tập thứ ba vào năm 246 trước Tây Lịch, dưới thời vua A Dục và đặt dưới sự chủ tọa của Ngài Moggaliputta Tissa.

Đây là một tập, vừa ghi chép các quan điểm của các bộ phái không thuộc phái Thượng Tọa bộ (Theravāda) vừa tŕnh bày quan điểm của phái Thượng Tọa bộ về những điểm ấy. Như vậy, tập này là những tư liệu để những ai muốn t́m hiểu sự h́nh thành các bộ phái, các quan điểm dị đồng và những tranh căi không thể nào tránh khỏi giữa các bộ phái ấy, có thể có những tư liệu quí giá về sự sai biệt giữa các bộ phái Phật giáo.

Tập này chỉ lưu hành nội bộ dành cho Phật tử, Tăng ni, những nhà nghiên cứu về luận A-tỳ-đàm (Abhidhamma). Tôi xin giới thiệu bản dịch của Tâm An và Minh Tuệ, tán thán nhiệt t́nh hoằng pháp của hai Phật tử này.

T.P Hồ Chí Minh, ngày 11-03-1987
Tỷ Kheo THÍCH MINH CHÂU.

-ooOoo-

Lời nói đầu

Bộ Kathavatthu dịch là "Những điểm dị biệt" (Points of Controversy) là bộ thứ năm trong bảy bộ của Luận tạng thuộc hệ thống Pāli tạng [*].

Tác giả của bộ sách này là Đại Đức Trưởng lăo Moggaliputta Tissa thời vua A Dục, chính ngài làm chủ tọa kỳ kết tập Tam Tạng lần thứ ba tại Palalipputta vào năm 246 trước Tây Lịch. Và tại hội nghị này, bộ sách của Ngài được đưa vào Luận tạng.

Bản chú giải tập Athāsālini ghi nhận rằng thời đại Vua A Dục có tám tông phái khác nhau, về sau lại phát triển thêm và đến thế kỷ thứ hai sau Phật lịch, người ta t́m thấy có 18 tông phái. Tập "Những điểm dị biệt" gồm có 216 luận điểm, liên hệ đến các vấn đề Phật đà quan, về các bậc Thánh, về Thánh đạo, về nhân sinh quan, phàm phu - Chư thiên, về vũ trụ quan, trạng thái hiện hữu, hư không, địa ngục v.v..

Chúng tôi dịch tập kinh này từ tác phẩm Points of Controversy của bà Rhys Davis do hội Pāli Text Society bảo trợ [**]. Trong quá tŕnh dịch thuật chúng tôi gặp nhiều khó khăn về các danh từ Abhidhamma chuyên môn, với thuật ngữ Anh văn chuyển sang Việt văn c̣n tương đối quá mới trong văn học Abhidhamma, chúng tôi nương vào quyển Guide Through the Abhidhamma Pitakas của Ngài Nyanatiloka, quyển A Manual of Abhidhamma của Ngài Narāda do Phạm Kim Khánh dịch từ Anh sang Việt văn (với tựa đề "Vi Diệu Pháp toát yếu"), quyển Thắng pháp tập yếu luận của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Chúng tôi c̣n dùng một số thuật ngữ chuyên môn trong văn học Abhidhamma của Ḥa Thượng Tịnh Sự.

Ngoài ra, khi dẫn chứng các đoạn kinh chúng tôi dựa theo một số Kinh Tạng Pāli trong Trung bộ kinh, Tăng chi bộ kinh, Tương ưng bộ kinh, ..., do Ngài Thích Minh Châu dịch thuật.

Với dịch phẩm đầu tiên, chúng tôi e ngại và dè dặt là với thuật ngữ chuyên môn trong văn học Abhidhamma c̣n quá mới, đă không diễn đạt hết ư pháp tinh hoa, thâm thúy, cách lư luận sắc bén của toàn bộ tác phẩm nầy. Rất mong chư vị độc giả bổ khuyết thêm. V́ lư tưởng phục vụ đạo pháp, chúng tôi có ư nguyện sách được ấn tống chỉ tặng, mà không bán, cho Chư Tăng ni, Phật tử, những nhà nghiên cứu về A Tỳ Đàm Luận.

Xin tỏ ḷng tri ân Ḥa Thượng Thích Minh Châu và ban Trị Sự Thành Hội Phật Giáo Việt Nam đă nâng đở bằng cách bảo trợ để dịch phẩm này ra mắt chư vị độc giả.

Xin chân thành cảm tạ chư vị Ḥa Thượng, Thượng Tọa, Tăng ni Phật tử, nhất là Ḥa Thượng Tịnh Sự, Đại Đức Giác Chánh, Đại Đức Giác Nhân đă khích lệ chúng tôi hoàn thành dịch phẩm này và chư vị Phật tử như Cô Diệu Hỷ, Cô Diệu Trí, Cô Hồng Cúc, Cô Thoại, em Đỗ Thành Phong ... đă góp công giúp sức để tác phẩm sớm hoàn thành.

Xin cảm ơn các Phật tử Việt Kiều tại Anh và Pháp: Phạm Ngọc Sâm, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Từ Thiện, Trần Quỳnh Như, bà Nguyễn Văn Hiểu, Nguyễn Tối Thiện, Nguyễn Tuyết Hương, Vơ Xuân Huyên, Nguyễn Thị Ngọc Liên, bà Trần Văn Nhơn, bà Trần Văn Bạch, cô Lưu Văn Lang, Sư Tín Hỷ, và anh Lê đă đóng góp tiền cúng dường để in tập kinh này.

Cuối Thu, Năm Đinh Măo - Mùng 1 tháng 9 Âl
Phật Tử Tâm An - Minh Tuệ
(Trần Quỳnh Hương - Đỗ Thành Minh)

[*] Ḥa thượng Tịnh Sự dịch là "Bộ Ngữ Tông", và chúng tôi xin ghi tựa đề nầy để nhất quán với các bộ khác của tạng Vi Diệu Pháp [B́nh Anson, 09-2003].

[**] Các phần ghi chú và sắp xếp trong bản dịch Anh ngữ đă dựa theo bộ Chú Giải Ngữ Tông của ngài Buddhaghosa [B́nh Anson, 09-2003].

-ooOoo-

 

 

YAMAKA
BỘ SONG ĐỐI

TẬP MỘT

Dịch giả:
Đại Trưởng Lăo TỊNH SỰ
SANTAKICCA Mahā Thera

LỜI GIỚI THIỆU

Bộ Yamaka (Song Đối) là bộ thứ sáu trong bảy Bộ Luận Tạng Abhidhamma (A-Tỳ-Đàm).

Trước đây Ḥa Thượng TỊNH SỰ đă phiên dịch từ bản Thái ngữ ra Việt ngữ vào năm 1975 (PL. 2519). Lúc ấy chưa có điều kiện in thành sách, th́ thời gian sau Ḥa Thượng tịch.

Tôi vẫn lưu tâm đến vấn đề này từ lâu, nhưng v́ chưa gặp cơ hội thuận tiện, để xúc tiến cho hoàn chỉnh Tạng Luận Abhidhamma của Ḥa Thượng đang c̣n dang dở.

Măi đến Đại hội Phật giáo kỳ II, nhà nước cho lập thêm Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam. Tôi có cho mời các Vị Sư Đệ tử của Ḥa Thượng đến chùa Nam Tông (Nguyên Thủy) đề nghị các Sư tu chỉnh bản dịch của Ḥa Thượng thật kỹ lưỡng. Tôi sẽ xin giấy phép ấn hành.

Các Vị hưởng ứng lời kêu gọi của tôi nên đă tích cực tu chỉnh Bộ Dhammasangani, Vibhanga, Dhātukathā, Puggalapaññatti và đă được Thành Hội Phật Giáo TP HCM ấn hành.

Nay các Vị Sư đệ của Ngài tiếp tục tu chỉnh Bộ Yamaka (Song Đối). Chúng tôi rất hoan hỉ, trước tinh thần đoàn kết và nhiệt tâm duy tŕ Phật Giáo của các vị ấy. Vậy nhân danh Tăng Trưởng Hệ Phái Phật Giáo Nam Tông (Nguyên thủy) Việt Nam, xin trân trọng giới thiệu dịch phẩm Yamaka (Song đối) này, đến toàn thể Chư Tăng cùng Chư Phật Tử trong và ngoài nước nên học, đọc, nghiên cứu... Cho trí tuệ tu hành càng được tăng tiến.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

KỲ VIÊN TỰ, ngày 11 tháng 02 năm 1995 (PL. 2539)
TĂNG TRƯỞNG HỆ PHÁI NAM TÔNG VIỆT NAM
Ḥa Thượng SIÊU VIỆT

-ooOoo-

LỜI NÓI ĐẦU

Đến nay Tạng Luận A Tỳ Đàm (Vi Diệu Pháp) vẫn đang được tiếp tục tu chỉnh, y cứ vào chánh tạng Pāli.

Bộ Song Đối (Yamaka) là bộ thứ sáu trong bảy bộ luận tạng Adhidhamma (A Tỳ Đàm) đă được Đại Lăo Ḥa Thượng Tịnh Sự phiên dịch từ Thái ngữ vào năm 1975 (PL 2519). Lúc ấy chưa có điều kiện in thành sách. Măi đến những năm gần đây, được sự khuyến khích của Thành Hội Phật Giáo nên lần lượt các dịch phẩm của cố Ḥa Thượng được in ra. Chúng tôi là đệ tử của cố Ḥa Thượng, có trách nhiệm tu chỉnh.

Bộ Song Đối (Yamaka) gồm có mười đề tài, tổng cộng là 5.100 pháp môn, 960.000 chữ, được Đức Phật thuyết trong 18 ngày. Chánh tạng Pāli làm thành 2 quyển.

Quyển Thượng gồm 7 đề tài là:

- Căn song (mūlayamaka).
- Uẩn song (khandhayamaka).
- Xứ song (āyatanayamaka).
- Giới song (dhātuyamaka).
- Đế song (saccayamaka).
- Hành song (sankhārayamaka).
- Tùy miên song
(anusayayamaka).

Quyển Hạ, gồm 3 đề tài là:

- Tâm song (ciṭṭayamaka).
- Pháp song (dhammayamaka).
- Quyền song
(indriyayamaka).

Chúng tôi tu chỉnh và cho in ra cũng thành hai quyển, tuần tự; có thể số trang mỗi quyển sẽ rất dầy nhưng không đến nỗi khó xem; chúng tôi muốn theo khuôn mẫu chánh tạng vậy thôi. [*]

Bộ Yamaka (Song Đối) là tên bộ luận; v́ nội dung của bộ này pháp được lập luận dưới h́nh thức vấn đáp từng đôi, hỏi chiều xuôi (anulomaṃ) rồi hỏi chiều ngược (pacaniyaṃ).

Thí dụ: Sắc là uẩn phải chăng? Hay uẩn là sắc phải chăng? v.v...

Lẽ đó mới gọi là bộ Song Đối.

Việc dịch thuật tu chỉnh bộ này quả là chúng tôi có gặp nhiều e ngại; v́ văn tự Pāli rất đơn giản, chỉ cần câu đơn giản ấy đă súc tích ư nghĩa rồi nhưng khổ nỗi khi dịch ra tiếng Việt nếu theo sát văn tự Pāli th́ thành câu tối nghĩa, nếu dịch câu tiếng Việt nghe cho rơ nghĩa th́ thành ra thoát văn. Chúng tôi thật băn khoăn. Nhưng cuối cùng th́ đành chấp nhận có thoát văn Pāli, để cho câu tiếng Việt có phần dễ nghe.

Mặt khác, trong đây có xử dụng đến một số từ chuyên môn, buộc phải dịch theo văn hán tự cho gọn, nhưng nghe qua thật khó hiểu. muốn chú thích theo sớ giải cho chặc chẽ ư nghĩa mà ngặt v́ sách sớ giải chúng tôi quá ít để so sánh; có những chỗ phải dùng đến trí suy luận riêng theo kinh nghiệm đă được học hỏi để chú thích.

V́ thế chúng tôi cầu mong được các bậc trí thức chỉ bảo thêm cho những điểm sơ sót trong bộ luận này. Thành tâm lănh giáo và thành thật đa tạ.

Nguyện cho Phật pháp được hưng thạnh, chúng sanh an vui tiến hóa.

Thành kính tưởng niệm các bậc hữu ân cha, mẹ, thầy tổ và tri ơn các vị thích chủ hảo tâm hỗ trợ trong thiện sự này.

T.M. BAN TU CHỈNH
Tỳ khưu GIÁC GIỚI

[*] Sau này, khi in ra, được chia thành 4 tập: quyển Thượng gồm 2 tập, và quyển Hạ gồm 2 tập.

-ooOoo-

 

  

PAṬṬHĀNA
BỘ VỊ TRÍ

Dịch giả:
Đại Trưởng Lăo TỊNH SỰ
SANTAKICCA Mahā Thera

TỰA

Paṭṭhāna: Tàu âm là Phát-thú, dịch chữ là Vị Trí hay Xứ Luận, là bộ thứ bảy cũng là bộ cuối cùng của Tạng Abhidhamma (A-tỳ-đàm hay Vi Diệu Pháp).

V́ pháp giới bao la, cảnh giới huyền diệu, hàm tàng vạn pháp, nên bộ Luận này đời sau gọi là Mahāpaṭṭhāna, Đại xứ Luận.

Sở dĩ tôi dịch tựa sách này là Bộ Vị-trí, v́ danh từ Paṭṭhāna có nghĩa là cứ điểm, điểm tựa, nơi chỗ ... mặt khác các nhà chú giải có giải thích rằng bộ Paṭṭhāna là đỉnh cao của trí tuệ, nhất thiết chủng trí (sabbaññutā) của Đức Phật được phát huy tột độ khi thẩm nghiệm lư pháp duyên hệ trong bộ Paṭṭhāna này. V́ hai nguyên nhân đó nên tôi dịch tựa sách là Bộ Vị Trí.

Bộ Vị Trí nội dung được tŕnh bày theo bốn luận cứ:

1. Pháp Thuận (anuloma) như là "Pháp thiện liên quan pháp thiện bằng Nhân duyên" v.v...

2. Pháp Nghịch (paccaniya), như là "Pháp phi thiện liên quan pháp phi thiện bằng Nhân duyên" v.v...

3. Pháp Thuận Nghịch (anuloma paccaniya), như là "Pháp thiện liên quan pháp phi thiện bằng Nhân duyên" v.v...

4. Pháp Nghịch Thuận (paccaniyānuloma), như là "Pháp phi thiện liên quan pháp thiện bằng Nhân duyên" v.v...

Cả 4 luận cứ ấy, mỗi luận cứ được phân tích theo 6 phạm trù:

1. Tam đề vị trí (tikapaṭṭhāna) là phân tích 24 duyên theo 22 Đầu Đề Tam.

2. Nhị đề vị trí (dukapaṭṭhāna) là phân tích 24 duyên theo 100 Đầu Đề Nhị.

3. Nhị đề tam đề vị trí (dukatikapaṭṭhāna) là lấy 100 nhị đề làm năng đối và 22 Tam Đề làm sở đối để phân tích 24 duyên. Phạm trù này có được 6.600 vị trí.

4. Tam đề nhị đề vị trí (tikadukapaṭṭhāna) là lấy 22 tam đề làm năng đối và 100 nhị đề làm sở đối để phân tích 24 duyên. Phạm trù này có được 4.400 vị trí.

5. Tam đề tam đề vị trí (tikatikapaṭṭhāna) là lấy 22 tam đề làm năng đối và cũng lấy 22 tam đề làm sở đối để phân tích 24 duyên. Phạm trù này có được 1.386 vị trí.

6. Nhị đề nhị đề vị trí (dukadukapaṭṭhāna) là lấy 100 nhị đề làm năng đối và cũng lấy 100 nhị đề làm sở đối để phân tích 24 duyên. Phạm trù này có được 19.800 vị trí.

Như vậy ở mỗi luận cứ có được 6 phạm trù và 32.308 vị trí. Tổng cộng 4 luận cứ sẽ có 24 phạm trù và 129.232 vị trí.

Mỗi vị trí phân tích theo 24 duyên (paccaya), đó là:

1. Nhân duyên (hetupaccayo)
2. Cảnh duyên (ārammaṇapaccayo)
3
. Trưởng duyên (adhipatipaccayo)
4. Vô gián duyên (anantarapaccayo)
5. Đẳng Vô gián duyên (samanantarapaccayo)
6. Câu sanh duyên (sahajātapaccayo)
7. Hỗ tuơng duyên (aññamaññapaccayo)
8. Y chỉ duyên (nissayapaccayo)
9. Cận y duyên (upanissayapaccayo)
10. Tiền sanh duyên (purejātapaccayo)
11. Hậu sanh duyên (pacchājātapaccayo)
12. Trùng dụng duyên (āsevanapaccayo)
13. Nghiệp duyên (kammapaccayo)
14. Dị thục quả duyên (vipākapaccayo)
15. Vật thực duyên (āhārapaccayo)
16. Quyền duyên (indriyapaccayo)
17. Thiền na duyên (jhānapaccayo)
18. Đồ đạo duyên (maggapaccayo)
19. Tương ưng duyên (sampayuttapaccayo)
20. Bất tương ưng duyên (vippayuttapaccayo)
21. Hiện hữu duyên (atthipaccayo)
22. Vô hữu duyên (natthipaccayo)
23. Ly khứ duyên (vigatapaccayo)
24. Bất ly duyên
(avigatapaccayo)

Mỗi duyên được minh định theo 3 khía cạnh:

a. Pháp năng duyên (paccayadhamma) tức là pháp làm nhân trợ.
b. Pháp sở duyên (paccayuppannadhamma), tức là pháp được trợ.
c. Pháp địch duyên (paccanikadhamma), tức là pháp ngược với sở duyên hay phi sở duyên.

Bộ Vị Trí này được đưa vào chương tŕnh Phật học A Tỳ Đàm cao đẳng, và được các bậc Đại Trưởng lăo như Ngài Bhaddandañānika (Miến Điện) và Ngài Saddhammajotika (Thái Lan) chú giải và giảng dạy sâu rộng. Tôi được duyên may đă thọ giáo với Ngài Saddhammajotika về Bộ Luận Tạng A Tỳ Đàm, nên nay phiên dịch tiếp tục bộ Paṭṭhāna ra Việt ngữ để truyền bá tại Việt Nam, mong sao Phật giáo Việt Nam được phát triển nền Phật học như các nước thầy bạn.

Mong thay!

TỶ KHƯU TỊNH SỰ
(SANTAKICCO BHIKKHU)

(Tài Liệu trên trích từ trang web www.buddhanet.net)

 

   
   

 

Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammasambuddhassa
Con xin thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn - Ngài là bậc Ứng Cúng, Đấng Chánh Biến Tri

Trang Chủ   Tin Tức   Thượng Tọa Bửu Chánh   Sư Cô Tâm Tâm   Thực Hành   Vấn Đáp   Thư Viện   Liên Hệ   Liên Kết